Tôi dùng kỹ thuật mực nhòe trong bức tranh này.
20/9/12
Hana
Hana(花, hoa) là cái tinh hoa
của nghệ thuật tuồng nô (Noh) mà các nghệ sĩ phải đạt tới. Trong đoạn 6 của tác
phẩm lí luận kinh điển Fuushikaden (khoảng năm 1400) của
nhà soạn kịch danh tiếng Zeami có đoạn:
“Về diễn xuất thì
có người đạt được kỹ thuật cao nhưng có khi không hiểu gì về tinh thần của Noh,
ngược lại, có người không nắm kỹ thuật cho lắm nhưng lại cảm nhận rất tốt về
Noh. Khi diễn trước công chúng, người có kỹ thuật cao mà diễn không đạt là vì
thiếu cảm nhận về Noh. Vì thế, kẻ mới vào nghề mà đứng trước khán giả lại trổ
được cái tinh hoa mà người diễn chuyên nghiệp không có.”
Kinh nghiệm của Zeami cho
chúng ta biết rằng cái tinh thần của tuồng nô (và nghệ thuật nói chung) không
phải là những qui tắc kĩ thuật biểu diễn với các động tác múa và cách nhả âm
giọng mà nó nằm ở cái đam mê hưng phấn của kẻ mới vào nghề. Khi đó kẻ mới vào
nghề chưa bị các thói quen diễn xuất hay chính là cái quyền lực của khái niệm
ngôn từ chi phối, họ hành động tự do sáng tạo theo cảm nhận tự nhiên về vở
diễn. Cái lần đầu kì diệu. Điều này làm chúng ta cảm tưởng tới vẻ đẹp bất tử
của mối tình đầu say mê non dại.
Trong hội họa Trung Hoa cũng có đề cập tới
vẻ đẹp hoang sơ của người mới vào nghề, nhưng cuối cùng họ cầu toàn để dẫn đến
sự tôn sùng nước đôi là vừa đạt sự tinh xảo, vừa đạt cái ngu ngơ. Còn nhà lí
luận Nhật Bản Zeami thì khẳng định rằng: sự chuyên nghiệp cũng tốt đấy, nhưng
sức sống của kẻ mới vào nghề còn hay hơn rất nhiều, và nó chỉ tồn tại trong vài
lần diễn đầu của người nghệ sĩ.
Seshu Toyo - Bốn mùa
Seshu Toyo (1420-1506) họa sĩ tranh thủy mặc Nhật Bản, nổi tiếng với bộ tranh 12 tháng trong năm dưới đây.
Tề Bạch Thạch vẽ sen
Tề Bạch Thạch (1864-1957) tên thật là Tề Hoàng, tự là Bạch
Thạch, quê ở Hồ Nam, nổi tiếng thế giới với biệt tài vẽ tôm. Tề Bạch Thạch lúc
đầu là thợ mộc và nghệ nhân vẽ tranh dân gian, sau rồi đi khắp nơi trong nước
để tham quan các phong cảnh đẹp và học hỏi về hội họa, văn học. Đến khoảng năm
40 tuổi ông mới bắt đầu vẽ như một họa sĩ thực sự. Không giống như các thiên
tài hội họa khác vốn bộc lộ tài năng thiên bẩm từ trẻ, Bạch Thạch là một ví dụ
điển hình của tinh thần làm việc và học hỏi không ngừng nghỉ để hướng tới cái
Đạo trong nghệ thuật.
Các bức tranh tôm sống động của Bạch Thạch thì ai cũng biết, nhưng các
bức tranh vẽ sen của ông cũng rất hấp dẫn.
Tề Bạch Thạch có lối vẽ rất phóng khoáng, giàu chất
biểu hiện và chịu ảnh hưởng nhiều từ Bát Đại Sơn Nhân, Thạch Đào. Ông mạnh dạn vẽ những
mảng lớn đen đậm tự do để tả lá sen, những đường tự nhiên để tả thân sen, và
màu đỏ hoa sen nổi bật lên với vẻ rất …vu vơ. Nét bút của ông hình như không bị
gò bó gì cả, rất sắc xảo, điêu luyện mà vẫn giữ được sự vô tư trong sáng.
Tranh của Thạch Đào
Bức “Đá, hoa và
cỏ dại”
So với Bát
Đại Sơn Nhân, Thạch Đào dùng nhiều nét hơn (có thể nói là hơi thừa nét) nhưng
lại có khí lực mạnh mẽ hơn. Mỗi ngọn cỏ, bông hoa đều có sức sống riêng của
mình nhưng tất cả thống nhất với nhau thành một thể. Nhiều nét đậm nhạt, dài
ngắn, dày mỏng, vặn vẹo khác nhau mà không hề loạn. Tư thế chuyển động của mỗi
thành phần trong tranh cùng nhau gợi lên cảm giác một cơn gió đang thổi. Ngọn
gió lan tràn toàn vũ trụ, chạm vào từng ngọn cỏ, đóa hoa.
Bức “Sen”
Cách thể hiện của bức tranh này nói riêng và phong
cách thể hiện của Thạch Đào nói chung rất tự do, phóng khoáng, mạnh mẽ, sống
động. Mới nhìn thì tưởng là hỗn loạn nhưng thật ra rất tự nhiên, chặt chẽ và
thông suốt theo nhất họa pháp. Các đường nét của đất đá, của hoa sen, của lá
sen, của cỏ dại đều liên hệ với nhau, tương đồng với nhau. Bạn có thấy những
nét hình chữ “V” thấp thoáng ẩn hiện trong toàn bộ bức tranh không?
Bức “Cảnh núi”
Lần đầu tiên
trong lịch sử tranh núi Trung
Hoa có một cách thể hiện lạ lùng, táo bạo như vậy. Thạch Đào
dùng các nét mực vỡ nhạy cảm thể hiện gân núi và dùng các chấm tròn nhỏ để tả
sắc độ. Tất cả các chấm nét đều tự do, không loạn mà cũng không nguyên tắc.
Hình ảnh các ngọn núi hiện ra không phải là “hình núi” mà là “ý núi”. Rất biểu
hiện!
Trong am nhỏ là một cư sĩ (hoặc đạo sĩ) đang ngồi chơi
cổ cầm. Thạch Đào tả núi hay là tả tiếng đàn? Từng tảng đá, từng ngọn núi như
thể là những con sóng dồn dập ngòai biển cả, trào dâng miên man trong tiếng đàn
tranh trầm hùng ngất ngây. Núi, biển, đá, sóng, nhạc, và người hợp lại là một.
Cái bản thể của vũ trụ ẩn hiện, lan tràn khắp nơi.
Tranh mà không phải tranh. Nhạc mà không phải nhạc.
Bức “Hoa đào ven
sông”
Các mảng mực
màu tự do hỗn loạn chèn lên nhau để tả một bờ sông mùa xuân đầy sức sống ẩn
hiện chơi vơi trong sương mù. Xa xa là ngọn núi lam vẫn còn lạnh để làm tương
phản với không khí ấm áp náo nhiệt của bờ sông.
Một bố cục
phóng khoáng mà chặt chẽ, đơn giản mà đa ý, khác biệt mà thống nhất, tương phản
mà chuyển hóa. Thật kì diệu!
Bức “Thác nước ở núi Lư”
Thạch Đào thì tạo một không gian mờ ảo trong làn
sương mù, cảnh vừa thực vừa hư, vừa ẩn khuất vừa hiển hiện, có nhịp điệu và
tiết độ. Thác nước, núi và cây bị nhòe vào sương mù nhưng thế núi vẫn hùng
dũng. Ông dùng
các mảng mực để gợi hình ảnh, đôi khi dùng nét vỡ để thể hiện gân núi khỏe
khoắn. Nhìn tranh ta thấy không khí hơi nuớc lan tràn khắp nơi, thậm chí
có thể ngửi thấy cả mùi hơi nước bốc lên.
Khổ Qua hòa thượng ngữ lục
Thạch Đào (1641-1717) họa sĩ Trung Hoa thiên tài với sự đột phá trong nghệ thuật vẽ tranh thủy mặc, có ảnh hưởng rất lớn tới các lớp họa sĩ sau này như Trịnh Hiệp, Tề Bạch Thạch, Từ Bi Hồng, Trương Đại Thiên... Dưới đây là mọt số trích đoạn trong cuốn "Khổ Qua hòa thượng ngữ lục" của ông.
“Khởi thủy chưa có phương pháp. Khởi thủy là hỗn mang
chưa có phân định. Khi cái hỗn mang ấy phân định thì mới có phương pháp. Vậy
phương pháp ra đời như thế nào? Nó ra đời từ một nét, gọi là nhất họa pháp"
"Nếu họa sĩ
không hiểu được cái lí muôn vật, không nắm được dáng vẻ bên ngoài của những nội
tình tinh tế của sông núi và con người, hoặc bản chất của chim thú cây cỏ, hoặc
bản chất của hồ ao, đình tạ và dinh tháp, ấy là vì chưa nắm được cái nguyên lí
nhất họa pháp nó xuyên suốt mọi vật vậy"
"Phương pháp
được sáng tạo ra cho hội họa, và quá trình sáng tạo ấy làm tan biến các hạn chế.
Khi phương pháp và hạn chế không xâm phạm nhau, ấy là lúc đã được hiểu được
những xoay vần của trời đất. Lúc ấy cái nguyên lí của hội họa mới được phát lộ
và cái nguyên lí của nhất họa pháp mới được thấu hiểu vậy"
"Còn có câu
“Bậc chí nhân không có phương pháp gì”. Nói vậy không có nghĩa là họ không có
phương pháp, mà là họ có cái phương pháp cao nhất, phương pháp của vô phương
pháp"
"Hà cớ gì ta
phải dập khuôn theo cổ nhân? Tại sao ta không nuôi dưỡng phát triển sức mạnh
của riêng mình?"
"Điều quan trọng là ta phải tôn trọng cái
năng khiếu bẩm sinh của mình, không được sao lãng nó. Biết hoặc thấy một bức
tranh trong đầu mà không hóa nó ra thành thật là tự cùm trói mình vậy. Người
bẩm sinh có tài vẽ phải biết trọng cái năng khiếu của mình, giữ gìn nó, củng cố
nó, đừng phung phí nó, mà cũng đừng để nó ngủ vùi trong tâm khảm”
(Trịnh Lữ dịch)
Tương phản
Tương phản là một trong những yếu tố quan trọng nhất của bố cục tranh. Dưới đây là một số loại tương phản được giảng dạy ở trường Bauhaus của Đức từ trước khi thế chiến thế giới thứ 2 nổ ra. Bauhaus là một trong những cái nôi của kiến trúc hiện đại, đồ họa, nghệ thuật trừu tượng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






















