Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Hoàng Rô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Hoàng Rô. Hiển thị tất cả bài đăng

21/7/14

Phú Vạn Kiếp


Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna



Sáu con sông: Cầu, Thương, Lục Nam, Đuống, Kinh Thầy, Thái Bình hội tụ vào một nơi, gọi là Lục Đầu Giang, linh khí bao trùm cả một vùng châu thổ.
Ở chỗ thung lũng ba phía núi Rồng bao yểm, hai bên tạo thế rồng chầu hổ phục, trước là minh đường của Lục Đầu Giang uốn vào, thật là một địa thế trời cho để dựng nghiệp lớn.
Đức Thánh Trần cách đây gần tám trăm năm ra đời tại Vạn Kiếp, sau dựng phủ đệ và nơi đóng quân, khi qua đời bảy mươi hai nấm mộ thật giả rải rác khắp nơi này.

Xưa, hàng trăm anh hùng khắp nơi về đây tụ nghĩa, làm môn khách dưới trướng của Đại Vương.
Phạm Ngũ Lão một trang hào kiệt văn võ song toàn,
Trần Thì Kiến nổi danh tài hùng biện,
Trương Hán Siêu học vấn cao sâu, mà tài văn chương ít ai sánh kịp,
Yết Kiêu có biệt tài bơi lặn, mà lòng trung kiên hậu thế vẫn noi theo,
Những môn khách khác như Dã Tượng, Ngô Sĩ Thường, Trịnh Dũ, Phạm Lãm, Nguyễn Thế Trực, Nguyễn Địa Lô… đều là những anh hùng cái thế, công lao trong sử sách vẫn ghi.

Nay, ta đứng trước cổng đền Kiếp Bạc, ngước nhìn bốn chữ "Hưng Thiên Vô Cực", ngắm cảnh núi sông hiền hoà trầm mặc mà ẩn tàng sức mạnh bền sâu, nghĩ lại đất nước trải qua bao phen lầm than bởi bọn ngoại xâm và bè lũ trong nước bạc nhược nhưng thời nào cũng có hào kiệt đi ra từ nhân dân, từ linh khí non sông, xúc động nhớ Đại Vương từng nói: "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".
Ta lại nhìn hai vế đối ở hai bên cổng đền của cụ Vũ Phạm Hàm:
"Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thuỷ bất thu thanh"
nghĩ thế sông núi hiểm trở linh thiêng, anh hùng ẩn phục khắp chốn dân gian, vậy mà sao cứ phải chịu nghịch cảnh bị o ép?
Những mảng tường nơi cổng đền tróc lở,
những bãi phân trâu ngang ngổn khắp sân đường,
những quán hàng xấp xê ghế bạt,
những tiếng mời chào dai dẳng cuộc mưu sinh.
Tất cả cuốn theo nhịp sống thường ngày, quên rằng:
Nằm sâu dưới sân bê tông là gươm đao và những cánh tay Sát Thát,
Trong bùn đen vẫn tanh máu giặc Nguyên Mông.
Bến sông đây ba quân reo hùng khí ngất trời,
Bãi lau kia từng vang lời Hịch tướng sĩ:
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”.

Khi ấy,
giặc Mông Cổ làm cỏ một nửa thế giới,
khí hung hăng hòng nuốt chửng Đại Việt ta,
nhưng non sông ta sâu hiểm, nhân tài cái thế,
uy dũng phi phàm vượt khỏi sự nghi ngại tử sinh,
Đại Vương làm yên lòng hoàng đế: “Bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy hàng”. 
Đoàn kết nhân dân, đồng lòng tướng sĩ,
phép dụng binh có sẵn chiến lược lâu dài,
quân sĩ hùng hổ giao tranh,
hào khí Đông A ngùn ngụt khắp chiến trường.
Bến Vạn Kiếp,
bản hùng ca dậy chí vạn kiếp người.

Ngẫm vận khí của một quốc gia,
lúc thịnh lúc suy cũng là chuyện dễ hiểu.
Phát triển hùng cường rồi đến kì khủng hoảng,
qua kiếp nạn rồi đến dịp khải hoàn ca.
Nếm mật nằm gai chỉ dài trong mấy khắc,
mà đỉnh vinh quang cũng tựa như lúc ăn một bát phở ngon.
Nhưng cuộc đời cứ âm thầm diễn ra như thế,
lẽ hưng vong tự nhiên mà bại, mà thành.
Vòng quay lịch sử hút chí anh hùng bôn tẩu,

sóng Lục Đầu Giang cuốn những cuộc tỉ thí tang bồng.

Phú Sông Đuống


Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna



Nhìn một dải hiền hòa sóng cuộn.
Nhớ sông Thái Bình nơi ta khóc chào tiếng sóng, bãi ngô khoai sương khói bấy nhiêu năm.
Mới vừa qua dòng Fontanka băng giá, chiều mùa hè câu cá trên bờ granit xám nâu.
Thấm thoắt đã ba chục năm, ngày và đêm liếc nhìn khung cửa.
Quán cuộc đời treo biển báo vẫn còn rượu và phòng trọ nghỉ chân.
Cuộc tháng năm
theo nước chảy từ đầu nguồn cao vút,
rơi xuống núi cao mây giăng ngùn ngụt.
Thác ghềnh mấy phen, sỏi đá chẳng cản nổi dòng, muốn ra sông ra biển.
Cuộc đời sóng gió, vài tiếng chó kêu, không ngăn nổi bước tang bồng.
Bởi dòng, thì ngàn năm vẫn tự chảy như thế, chẳng thể rào giục thêm bớt.
Sóng sông, tưởng động ba cõi, mà vẫn tĩnh mịch như chưa dậy bao giờ.
Kìa mưa xuân viết những từ trên bãi lở,
tiếng đồng dao dậy sóng bãi bồi:

…bùn lún tám năm
núi ngập ba lần
cạnh đền ông câm
năm trăm ngõ gạo
một tiếng nghê rao
long bào xin lấy
vượt gió phía tây
trăng đầy mây xuất
hội vạn tinh binh
năm quân núi bình
đông kinh thức giấc
mù giăng năm khắc
cầu đạo tan mây
nước dựng ba ngày
rồng bay đông hải
trao một lưỡi hái
chém ruộng làm hai
võ soái qua đời
mưa rơi bốn tháng
bảo kiếm lang thang
tám trăm năm gọi
trờ lại đất thiêng
hợp nhất năm miền
mùa đông bắc chiến
gà khóc chim kêu
trong lều xuất tướng
dẹp đạo hung binh
một dải thái bình
trăm năm sóng lặng…

Tiếng chiêng đền ngắt ngang lời sóng nói,
gõ lại hồn linh khí thuở sơ khai.
Xưa Luy Lâu một kỉ nguyên sóng dữ,
bao phen lầy vấy đỏ bãi cát sông,
những mũi lao xanh bạt ngàn tre vun vút,
tiếng quân reo bạt vía quỷ thần.
Chiến tranh qua đi, lá dâu xanh trải khắp cánh đồng,
khúc nhạc giao tình reo rắt dọc bờ sông.
Những con đường, luỹ tre, và mái chùa đỏ nâu ngói cũ.
Cây gạo đầu làng, quang gánh, rêu cột đình phủ mấy trăm năm.
Một tiếng bò kêu vu vơ ngoài bãi,
một lời cầu trước cổng đền Phù Đổng Thiên Vương.
Nghìn năm qua, nơi cậu bé cất tiếng thét trừ gian diệt bạo,
vạn năm sau những kí tự vẫn lưu dấu trên bia.
Những ao hồ có thể bị lấp đi,
và rặng tre bị đốn chặt dần,
nhưng tiếng thét gầm vẫn vọng trong sóng thiên thu.
Hỡi những kẻ ngu khờ phá phách!
Hỡi những loài lang sói tham lam!
Có biết chăng,
nơi sông Đuống thế yểm ngàn năm,
nhìn hiền hòa mà giăng đầy linh khí.
Những mái đình mặc trầm hồ thỉ,
những khói hương lăng miếu ngụt ngời.
Tiếng trống đền ầm ầm lan bốn phía,
tiếng chuông chùa vang trí huệ khắp nhân gian.

Cứ thế qua, những cây đa cây gạo, sừng sững uy nghiêm chỉ dấu lối vào những làng quê gà gáy. Tôi dừng lại nhìn ra phía bờ sông xa xa… nguồn sống con người bắt đầu từ nước, khởi thủy, cuộc sinh tồn thì là dòng chảy, sông, kiếp đời như một con sóng, bài phú, do các kí tự mà tạo thành, không muốn viết cũng chẳng được, giọt mưa, xoáy trong đầu những ý nghĩ, nghiệp, thế là tự nhiên phải trả ý nghiệp, viết, lời hẹn tang bồng vốn chẳng có, tự nghiệp bắt con người phải đi, bản lai, nơi chẳng mảy may một tri luận, giọt mưa bụi trào thành cả đại dương, trôi, bến bờ, bên lở bên bồi, hẳn là sông, không còn ý nghĩ về con thuyền, cành lau vượt sóng, giác, trí huệ nảy nở như ngọn cỏ dưới mưa xuân, im lìm không bao giờ to lớn, dễ nát, giày xéo, nhưng không bao giờ biến mất, trẻ con vẫn đùa nghịch, bò ung dung gặm, lẽ sống nhân gian, giản dị, ngay trong từng hơi thở, trong từng bước đi, từng nụ cười, từng giọt nước, mắt, mưa, sông…
…sông…
…những kí tự…

…đuổi nhau trên dòng Đuống…

Phú Sông Hồng


Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna


Nhớ lúc sông chỉ là chữ "m", bắt đầu cho tiếng "máu" mấy nghìn năm.
Một dòng "đỏ" sục sôi không ngơi nghỉ, như tên sông bồi đắp cuốn sử dày.
Người ta gọi là sông Hồng.
Không qua sông bằng cầu Chương Dương để đi làm như mọi ngày, nay ta đi phà du ngoạn, nhìn về hai bờ đê thấp thoáng luỹ tre, một bên là Thường Tín, một bên là Khoái Châu.

Kia bến Chương Dương sóng căm hờn đã từng dậy,
đây cửa Hàm Tử tám trăm năm máu giặc vẫn còn tươi.
Nghiêng lối mòn giữa trời và đất,
cát lịch sử theo bước những kỉ nguyên.
Giữa sóng đỏ dập dềnh bọt kí tự,
tiếng vỗ phà kể tội lũ gian tham.
Qua sông này đã từng Ích Tắc,
bến đò kia Chiêu Thống thoát thân.
Chúng bán nước để mực sông vơi cạn,
máu bao đời tiếp tế bọn ngoại bang.
Mái chèo ông cha chúng bẻ gẫy để lót đỡ ghế ngồi,
hịch trên sông nhại thành lời xu nịnh sứ thần nước trên.

Lặng lẽ nhớ tới Cáo Bình Ngô:
"Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận
Trời đất chẳng dung tha."
Lại ngẫm nghĩ về hiện tại:
Rừng trúc chặt để khai thác quặng tài nguyên,
nước Đông Hải chỉ còn phần nhỏ.
Biết đời nào ghi tội lũ cuồng xâm?
Nước ở đâu rửa sạch mùi tủi nhục?

Nhác bốn bề nghe sao yên ả,
tiếng ru con u ấp mái tang bồng.
Sóng cứ gầm gừ mà bờ đê cứ vắng lặng,

rặng tre xanh phấp phới gió chiều.

Phú Sông Đà


Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna


Một dải đen ngòm nước thải nhà máy thủy điện chảy ngược lên phía bắc hoà với sông Hồng. Dòng đen yếu ớt đó gọi là sông Đà.
Ta đứng đây, nơi sông núi xứ Hoà Bình.
Dãy Kì Sơn rồng nấp hổ chầu,
dòng Đà Giang ao tù giếng cạn.
Rồng lách trong kênh, phun phì phì nước thải,
hổ rón rén trên sỏi, hậm hực liếm cỏ khô.
Sông Đà như con giun đất luồn cúi quằn quại,
như thế hệ chúng tôi.

Nhớ lại, những thế hệ cha anh sống đời dữ dội, nơi rừng núi thượng nguồn, tung hoành giữa trời đất, quật ngã biết bao tên khổng lồ xâm lược.
Thế hệ chúng tôi như nước chảy dưới hồ thủy điện, bị uốn dòng từ thuở ấu thơ,
lờ đờ, lờ đờ
mặc nước trôi,
không thể tạo những con sóng trào tráng khí.

Thế hệ tôi là một lũ ma lơ canh,
thích ăn diện và ngồi trong tủ kính,
mỉm cười khi người qua đường ngắm nghía,
tưởng mình là giai cấp tinh hoa.
Thế hệ tôi là những con gà công nghiệp
được nuôi bằng thuốc tăng trọng
thích đá cựa ở trong lồng
và thường bị cúm hàng loạt. Lúc đó người ta sẽ chôn sống những cuộc đời.
Thế hệ tôi là những tờ rơi của lịch sử,
tự đánh quên mình, quên tiếng gọi tự ngàn xưa,
tự vùi mình dưới rêu phong đài chiến thắng,
ở đó lẩm bẩm đếm từng con kiến đi qua.

Ôi sông Đà, âm thầm cun cút,

mang tâm hồn lứa tuổi thanh niên.

Phú Sông Hương


Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna


Khi đôi chân sững trên đồi Vọng Cảnh thì cả một miền non nước như rồng phượng bay về chầu. Phong thuỷ cố đô mang vẻ uy nghiêm kiêu hãnh mà trầm mặc thanh tao, gợi nhớ tới vua Minh Mạng đầy mưu lược kinh bang tế thế và vua Tự Đức có tài văn chương nghệ thuật.
Phía xa, dãy Trường Sơn sừng sững ngàn đời, nơi bắt nguồn hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch, trải qua hàng chục thác nước hùng vĩ để gặp nhau ở ngã ba Bằng Lãng, từ đó hiền hoà uốn lượn qua kinh thành rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Dòng sông chảy, và những triều đại đổi thay.

Xưa Chế Mân đổi vùng này lấy công chúa,
vì một đàn bà mà mất góc giang sơn. 
Qua Hoành Sơn một dải xây nghiệp lớn,    
chúa Nguyên Hoàng nuôi chí trăm năm.
Thành Phú Xuân Quang Trung lên ngôi hoàng đế,
bắc phạt nam chinh thoả chí anh tài.
Vua Gia Long chẳng ngại nếm mật nằm gai,
lấy lại Phú Xuân, thống nhất ba mảnh sơn hà.
Rồi những cuộc giao tranh nam bắc ở nơi đây,
Tết Mậu Thân choàng khăn trắng bai bên bờ nước đỏ.
Huế ngày nay phấp phới kì hồng,
dựng tượng đài hướng về phía sông Hương.
Huế mai sau cũng theo dòng Hương mà chảy,
những chính triều mải miết cuộc tháng năm.

Những triều đại lần lượt đổi thay theo sức cuốn của lịch sử, những thế kỷ và những công trình, những anh hùng và những sự kiện… cứ thế vẫy vùng theo dòng Hương mà tạo thành những con sóng. Thế nhưng trong cái vô thường đó của lịch sử, thời nào cũng có câu hò văng vẳng bến hương đêm. Hò rằng:
“Miền trung vọng tiếng em xinh em bé tên là Hương Giang
Đêm đêm khua ánh trăng vàng tràn lan hò ơ
Thương Đông Ba người chen cửa chợ
Nhớ Vân Lâu thuyền vó ôm bờ ơ hò ơ hò
Quê hương em đẹp lắm ai ơi
Bài thơ trên nón nụ cười đắm say
Trời rằng trời hành cơn lụt đắng cay à ơi
Khiến đau thương xuống ngập Thuận An để lan biển khơi
ơ hò ơ hò Hò ơi!...”

Đêm đến, đường phố Huế vắng vẻ, cầu Tràng Tiền lung linh trong ánh đèn màu, mưa mỏng manh và dai dẳng cả tuần, những cô gái bán hoa thì e lệ nép vào góc phố chứ không trơ mặt ra ở lề đường như ở các thành phố lớn. Người cố đô có khác, cái gì cũng nhẹ nhàng kín đáo. Những chiếc bánh bèo nhỏ xíu, ăn không đầy miếng, chỉ đủ để thưởng thức cái hương vị của nó. Những thứ tầm thường bình dị nhất ở đây cũng thanh tao là thế. Ta ngồi trên xích lô thưởng thức cái mưa lạnh đầu đông của sông Hương, lắng nghe tiếng bánh xe khua trên vũng nước mà suy nghĩ miên man về những cuộc đời dưới đáy xã hội, về anh phu xe, về những cô gái chân dài đến khách sạn, về chính bản thân mình… Mặt trời lên rồi mặt trời lặn, còn những lớp người bần cùng vẫn tồn tại ngàn năm: phu xe, gái giang hồ, lữ khách… Phải chăng những con người làm cho lịch sử thành một dòng chảy không ngơi nghỉ chính là những lớp người cùng khổ bất biến đó?
Mưa sông Hương thấm vào trong ngực.

Những cuộc đời lặng lẽ trôi.

Phú Côn Sơn



Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna


Lặng lẽ giữa hai hàng thông xanh mướt,
đường về Côn Sơn thoang thoảng hương,
quanh co hồ nước xen trong núi,
thấp thoáng suối ngàn trong ngón tay.
Nhớ khi xưa ông ngoại lên núi Chí Linh ẩn cư, lúc đó ta còn nhỏ lắm, hàng năm đến dịp hè mẹ lại chở lên Côn Sơn thăm ông ngoại, chiều đi lên đồi hái sim rồi tắm suối. Thoáng chốc đã hơn hai chục năm, người xưa cảnh cũ nay chẳng còn, bất giác nhớ đến câu thơ của Ức Trai khi trở về cố hương đã viết:
“Nhất biệt gia sơn kháp thập niên
Quy lai tùng trúc bán tiêu nhiên”.
Thông vẫn xanh, suối vẫn reo, rêu vẫn phủ, mà tâm cảnh héo tàn một nửa.
Đại vẫn nở, chuông vẫn kêu, ngói vẫn vỡ, mà tâm người càng thêm trăn trở.

Qua tam quan, ta thong thả bước tới cửa thiền.
Cánh rêu phong, ghé nhìn bia “Thanh Hư Động”.
Thắp một nén nhang, ta lại cầu huệ an trước tượng Phật.
Đọc lại thơ xưa, thấy hình bóng Tổ Huyền Quang ngồi nhập cảnh thiền:
“Vong thân, vong thế, dĩ đô vong
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế vấn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương”.
Nhìn hoa cúc thấy tâm thời yên ắng,
ngước rừng thông trầm lặng như mái nhà.
Phật cảnh chẳng ở đâu xa,
cúc an thông huệ chính là trong tâm.

Rồi chẳng biết tự lúc nào ta bước lên sáu trăm bậc đá, lên tới tận đỉnh Côn Sơn, nơi có những tảng đá to trơn bóng, khéo được sắp đặt chỏng chảnh tự nhiên. Một khung cảnh bao la hữu tình, những thung lũng chen theo mạch núi trập trùng, thông và hồ nước, đá và suối dập dìu quấn quýt lấy nhau. Đứng trước cảnh tượng phiêu diêu đó hẳn khiến người ta nổi thi hứng. Hoàng đế Lê Thánh Tông cũng đã từng đứng đây mà viết rằng:
“Nhật thiên thảo mộc cùng ngu hưởng
Bất tận giang sơn nhập chỉ huy”.
Đứng hồi lâu tận hưởng vẻ thanh khiết của thiên nhiên, ta lại nhìn sang ngọn Giáp Sơn, là nơi mà các học trò của Ức Trai đã an táng ông sau khi bị tru di tam tộc. Ngọn núi sừng sững trước mắt mà ta thấy như một khoảng trống xanh ngắt để những thăng trầm, oan khuất của lịch sử rơi vào trong đó. Bất giác, ngâm nga:
Sao Khuê sáng bởi những vết đen của lịch sử,
cuộc thanh trừng để hậu thế tôn thờ một thánh nhân.
Nợ nước thù nhà mà tạo nên một danh tướng,
bao chông gai nuôi dựng khí anh hùng,
văn hoá bị tận diệt nên sinh ra một danh nhân văn hoá,
khúc khải hoàn tức là đại công thần sẽ mang mối hiểm nguy.
Lẽ nhân gian tương hồi giữa hai đầu sáng tối,
Cuộc thành bại cũng rong ruổi trong dải sống chết mà thôi.

Với phận người, sự hiện diện dưới gầm trời này thật chóng vánh, những oan khiên thị phi hay hân hoan hưởng lạc rồi cũng theo nắng chiều đi vào bóng tối huyền linh khó hiểu. Những cái chết của nhân tài, những oan khuất của công thần thì đời nào cũng có chẳng riêng gì Ức Trai. Bí sử trong thời chúng ta cũng đâu thiếu gì những cái chết của danh tướng, những nỗi oan của sĩ phu. Nhưng tất cả nhẹ bẫng như lông hồng. Bởi nếu đã là bậc anh kiệt thì đâu bị mấy lời phán xét tầm thường làm yếu đi chí khí, đâu bị cái chết ám ảnh tới lương tri. Như thế, chúng ta gọi là ánh sáng của sao Khuê.  

Mải mê nghĩ về Ức Trai chẳng hay mặt trời đã tới đỉnh đầu,

chợt tiếng thông chuyển lời chuông gọi xuống nhân gian.  

SERENADE


Thơ: Hoàng Rô
Tranh: Một Danna


Ý chân viết nhạc. Chiều
buông nốt nhạc oằn oại trên
khuông. Gẫy âm, đứt mạch,
đảo phách.
Cách bốn nhịp cầu.
Tiếng hải âu mải miết bạc màu.
Tiếng khói tàu than thở.
Tiếng mơ ú
â…
Tôi thở
dài những kí âm. Tôi sờ
những kí tự. Mờ
mập. Ngừng
ngập. Phồng
phập!
Trên phím đàn những kí âm đứt đoạn.
Xen chéo hỗn loạn kí ngôn. Cười.
Lưỡi cắn môi.
Gẫy hết rồi.

Tôi viết đời nguệch ngoạc trên trang giấy,
cuộc phiêu du chếch choáng ngôn từ say,
chữ cái tê cay tạo trọng âm nghịch nhĩ,
ngày đen chưa đi mà đêm trắng đã trở về.
Tôi không thể tạo câu dài như ánh sáng,
những đam mê tự giới hạn tâm hồn.
Đời lớn khôn bởi nói lời dại dột,
cuộc sống ngột vì giấc mộng vượt trùng dương.
Phóng tầm mắt ra ngàn phương,
để quên rằng hướng nào ta đứng.
Mắt không cùm gông tâm hồn vẫn chịu đựng,
bởi ách ngôn từ chẳng đặt trên lưng,
mà tạo bẫy trong ngực căng thổn thức.
Nụ cười tươi ẩn tàng nỗi buồn bực,
khúc nhạc chiều mang âm vực bình minh.

Có đôi khi tôi chợt nhớ cuộc tình,
chối bỏ hình trái tim tôi tìm em trong văn tự.
Men hồng cay sưa.
Vị nhan diễm đắng.
Bạc lặng.
Mạng sao.
Trên trời cao sóng ngực lung linh,
dưới hồn tôi nhạc tình cô thành kí tự,
chữ hoàng hôn vẽ bóng hình thiếu nữ,
dây đam mê kéo khúc nhạc cũ vọng về.
Âm giọng buồn lê thê,
tương lai về quá khứ.
Ngôn chữ nhập nhoà,
ghét hoà yêu trộn.
Trái tim đần độn,
lẫn lộn ghét yêu
Hỏi Mị Châu : điều chi làm căm giận?
Nàng trả lời : thù hận tạo tình yêu.
Hỏi cây cau : anh thương ai nhiều?
Cao trả lời : tình yêu tạo hận dỗi.
Mọi cuộc tình có cặp có đôi.
Mọi khái niệm cũng đi thành đôi cặp.
Cặp mắt xa vời.
Đôi môi cháy bỏng.
Cặp ngực đầy cong.
Đôi chân thon thẳng.
Những cặp trăng
nghĩa không thẳng.
Trăng in hồ thu lạnh.
Trăng gọi lá trúc rơi.
Trăng đối chọi mặt trời.
Trăng ru đời hoa rượu.
Trăng cười sao lấp lánh…
Sao trăng chẳng duy nhất một đôi?
Sao tình không mỏi mong một cặp?
Mâu thuẫn lặp.
Ngôn từ đánh cắp tình yêu.
Tình khúc nhạc chiều.

………... Yêu
câm lặng. Thơ
câm lặng. Đời
câm lặng. Tôi
lặng câm……
Để lắng nghe thanh âm serenade.
Nhạt.
Những nốt nhoà.
Tay vuốt qua biết bao hạt bụi.
Mơn man.
Phím đàn hư không.
Trông ra khung cửa rực hoàng hôn.
Nụ.
Đôi son cười hé mở.
Âm mộng mơ rơi trong khe ngực.
Tức.
Dậy trái tim.
Tiếng Son tìm hơi thở lạ.
Tiếng La.
Là Lá La Là Lá La Là.
Tiếng Si sa trong vực sân mộng mị.
Tiếng Mi.
Gọi Ta lạnh căm.
Tiếng Rê uốn lưỡi răng cầm cập.
Tiếng Đô.
Kéo Đồ lên cơ bắp.
Tiếng Pha sắp trong lọ nước hoa.
Phun ra.
Dòng nước đặc hòa
âm
thầm lặng tận hưởng vị đê mê.
Tê nhạc chiều êm.
Bóng sương đêm chờ

giấc mơ chiều.
Trong mùi nhạc tôi mơ miền xa vắng,
xem âm thanh phẳng lặng ý tượng huyền.
tiếng hoang động thoảng vị trinh nguyên,
gợn con sóng trầm hương xuyên không ngộ,
bờ vách cổ trôi vô ngôn thăm thẳm,
thoát âm mê tôi chìm trong ngộ đắm,
niệm đã không thì đắm chìm trong không niệm,
dứt tướng hình lại miên hiện tướng vô,
cõi tây phương chẳng ai đứng đợi chờ,
tung hạt cát bơ vơ nơi cực lạc,
gió sa mạc thổi vô hình man mác,
lột áo hình, khoác vô cực khoái lên xem…
Không hoa văn, không đen, không sáng,
không chàng màng một vẩy niệm hoa văn,
không vết mờ, không hằn in kí tự.
Tưởng thoát rồi, không một ý suy tư.
Dư âm không trong cũi.
…
Tôi cười, nhặt ngôn tự vào túi.
Phủi. Bụi. Thói. Quen.

Tôi soi âm mình dưới ánh đèn chiều muộn,
trên môi xước dòng chữ lạ trào tuôn…
không chữ hoa KHÔNG CHỮ THƯỜNG không dâu
săc không dấu huyên không dấu
nga không một dấu chấm câu
Rơi rớt trên hè, chảy về đâu?
Ở ngoài xa sóng biển gợn bạc đầu
bất tận… Khúc nhạc chiều đậu trên tiếng hải âu.
Đâu?
hải đăng, lầu đăng,
đèn đường, đèn biển,
đất đứt, đất liền,
biển liền, sóng vỡ,
sóng vỗ, biển động,
ngày mộng, đêm mơ,
âm mờ, thanh sắc,
thanh huyền, dao sắc,
tiếng cắt, âm sặc,
vẫn còn thắc mắc?
chữ hát, nốt kêu,
giọng đều, tông ngắt,
hoa mắt, hoa tai,
hoa tay, nhạc chạy,
âm thay, điệu hát,
serenade,
xê-rê-nát,

Khát.
Khát một thời hoa rơi cánh đỏ.
Khát chiều đổ nắng chạy choàng giang.
Khát nụ hôn vàng bóng lang thang.
Khát âm hoang ru hồn kí ảnh.
Khát miệng cười gợi vị mong manh.
Khát sắc thanh gọi tên đời ú ớ.
Khát mực loang phá mớ câu hình.
Khát một nguyên âm tạo tiếng tình.
Khát môi trinh. Khát
serenade.

Hạt.
Hạt bụi hồng vướng gót trầm linh.
Hạt nắng hoang chạm ngón âm tình.
Hạt tâm trinh giấu hương trong miết.
Hạt mê tương kéo dài chết kiếp.
Hạt ngôn từ xiết chặt những hồn thơ.
Hạt tinh trà trùng lụt giấc mận mơ.
Hạt đợi chờ chiều trăng in vũng nước.
Hạt nhân chữ khước từ.
Hạt âm tự. Hạt
serenade.

Nát.
Nát một đời rượu say cánh đổ.
Nát một mùa hoa nở trong đêm.
Nát một đêm trăng tàn sao nhãng.
Nát một sáng sương đọng bờ mi.
Nát đường đi bùn lầy vạt trắng.
Nát tia nắng vương vẩy vàng hôn.
Nát tinh hồng gió thu gai xước.
Nát mặt nước tâm động không minh.
Nát cuộc tình. Nát âm điệu
khúc nhạc chiều. Nát
serenade.

Nhạt.
Nhạt vị tục, tan mùi cay đắng.
Nhạt phụ âm, nguyên tiếng đa chiều.
Nhạt hơi rượu, ngữ nghĩa liêu xiêu.
Nhạt qui chiếu, thời gian mất bóng.
Nhạt nhẽo nước trong.
Nhạt nhoà kí ức.
Nhạt những buồn bực. Nhạt
nỗi đam mê. Nhạt
serenade.

Hát.
Hát ru tình, ru những âm tinh.
Hát chạm đời, chạm vị hơi môi.
Hát xiêu hồn, xiêu dạo ánh hoàng hôn.
Hát vỡ mộng kí tự con.
Hát tan giấc mộng lớn.
Hát phiêu diêu ngọn gió vô thường.
Hát nẻo đường xa dần bụi đỏ.
Hát hải âu chiều không bến đậu.
Hát nước qua cầu.
Hát câu. Hát
phụ âm. Hát
s-e-r-e-n-a-d-e.

S_E_R_E_N_A_D_E

S
Sóng Sứt Sẹo xô bờ đá trập trùng dương
đường cát mặn Say chiều Sánh Sáng
Sáng một nửa, tối non nửa Sinh Sôi
ngồi vẽ cát thấy âm Sâu Sặc tiếng chiều
thiêu hồng hôn thiêu âm hình Sóng ảnh
ánh Siêu hồng đốt cháy Siêu hình âm
cầm nốt Son ném giữa đảo hư không
mong trời cao giáng Si vào giấc mộng

R
Rặng tRe sông Rì Rào âm giốc
gốc cây già Rứa lửa chiều hoang
Ràng âm chuỷ vào tRong chữ nắng
lặng đứng nhìn nét đất vào Ra
hạ âm cung dài Reo gió mát
hát tiếng vàng Rặng sóng xa xa
cả tRời cao âm thương động đậy
dậy tRên mùi hơi ấm khe môi
lời thủ thỉ vũ âm tRầm mặc
lạc kí thanh lối chữ tRở về

N
NgôN từ từ Ngôn sắc sắc
sắc thaNh âm sắc Nhạc chiều
diều tuNg lưỡi trêN khôNg sắc NhọN
NgọN lục huyềN mọc dưới châN trâu
đầu tiếNg tiêu âm đeN quýNh quẩy
cuối lưNg huyềN đuôi vẫy du dươNg
đườNg trắNg triềN meN thaNh sắp tắt
Ngắt / kí âm khôNg sắc khôNg huyềN

D
Dài tay với vách Đá hư
từ không hư ngữ tự bung pháp Dời
Đời tuột tay pháp rơi sâu xuống vực
bực miệng cười Dựt vút tận trời cao
tạo vần thơ chiều quen không ám ảnh
ánh tịch tà chẳng hề tạo bóng ma
là ngôn tự vẫn Đùa Đời nghịch pháp
ngáp xong rồi mà thấy tiếng Đã thành Đâu
câu chưa tạo mà tâm như thấu hiểu
chiều chợt cười ánh núi giả tâm

ngắm vàng mê. Ngắm
ngôn từ. Ngắm
nhạc âm. Ngắm
không lặng câm.
Tia nắng chiều kéo vĩ cầm bóng tối.
Giọt môi hồng lan giọng tới xa xanh.
Sóng dâng cao nhấn phím xuống âm trào.
Khói sáo tàu hút giai cung trong ngực.
Thao thức mi thăng mắt nhắm mơ.
Cả không gian dậy hoà tấu như tờ.
Nảy vần thơ lịm điệu yêu yêu…
Ngực kiều liễu bay bay theo gió tóc.
Nóc nhà thờ cây thánh giá dưới chân thơm.
Cỏ chớm mọc trên góc trời cẩm thạch.
Chuông khánh vang thiên thần nữ trộm nhìn.
Yêu yêu thần, mê mê tượng.
Nhìn tưởng kí hiệu, hư thực không xem.
Lấy âm thanh gắn hai miền tâm thức.
Keo sực nức mùi hương dung trần.
Mất hồn theo những gót chân.
Tưởng sẽ tới hầm trời thánh thiện.
Ngỡ giáng đời một bóng tiên thơm.
Tỉnh ra trút áo là cơn mơ chiều.
Bởi làn môi đã nói lời da thịt.
Và ngón âm hồng đã phá vị bâng quơ.
Những tôn thờ nay tim đời phá bỏ.
Chạy theo ngôn của hiện sống không có lời.
Bỏ rơi kí hiệu.
Truy điệu âm thanh .
Hình thành không âm hiệu.
Không cần hiểu.

Khúc nhạc chiều.